Các khóa học đã đăng ký

Những lỗi ngữ pháp phổ biến trong thi IELTS P.1

Hai cụm "big red car" và"red big car" tưởng giống nhau nhưng chỉ một cách viết đúng. Nhầm lẫn thứ tự tính từ là lỗi ngữ pháp tiếng Anh phổ biến.

Trật tự tính từ

Nếu phải sử dụng nhiều hơn một tính từ để mô tả danh từ, bạn cần nhớ rằng những tính từ này phải được sắp xếp theo quy tắc nhất định. Đó là lý do tại sao "it’s a big red car" đúng, nhưng "it’s a red big car" lại sai.

Dưới đây là trật tự tính từ bạn cần nhớ:

(1) số lượng hoặc số (number); (2) chất lượng (opinion); (3) kích thước (size); (4) tuổi, niên đại (age); (5) màu sắc (color); (6) hình dạng (shape); (7) nguồn gốc, xuất xứ (origin); (8) chất liệu (material); (9) mục đích (purpose).

Thông thường, chỉ có khoảng 3-4 tính từ đứng trước một danh từ. Ví dụ: "It is a beautiful long new dress" (Đó là một chiếc váy mới dài đẹp). Trong đó, "beautiful" là tính từ chỉ ý kiến, nhận xét (opinion), "long" (dài) nói về kích thước "size", còn "new" (mới) chỉ tuổi thọ (age).

"May" và "might"

Quyết định khi nào dùng "may" thay vì "might" là tương đối khó khăn vì sự khác biệt giữa hai động từ này khá nhỏ. Chúng đều chỉ một điều gì đó có thể xảy ra nhưng "might" cho thấy sự không chắc chắn bằng "may".

Ví dụ: "I might take a trip to India next year" có nghĩa là bạn có thể đến Ấn Độ vào năm tới hoặc không. Trong khi đó, "I may have a slice of cake after dinner" thể hiện sự chắc chắn hơn một chút về việc bạn sẽ ăn miếng bánh sau bữa tối.

Một điều gây khó hiểu hơn nữa là "might" là quá khứ của "may". Do đó, ở thì hiện tại, bạn sẽ nói "He may eat the last piece of cake" (Anh ấy có thể ăn miếng bánh cuối cùng). Khi chuyển sang quá khứ, câu trở thành "He might have eaten the last piece of cake" (Anh ấy có thể đã ăn miếng bánh cuối cùng).

"Fewer" và "less"

Việc phân biệt "fewer" và "less" khiến cả người học tiếng Anh và người bản xứ gặp nhiều khó khăn. Hai từ này đều mang nghĩa ít hơn, trái ngược với "more" (nhiều hơn). Để biết cần dùng từ nào, bạn cần nhìn vào danh từ đứng trước nó vì "fewer" dùng với danh từ đếm được (books, cars, people...), còn "less" đứng sau danh từ không đếm được (love, water, electricity...).

Nếu thấy các số đứng trước danh từ thì nó là danh từ đếm được. Ngược lại, nếu không có dạng số nhiều, danh từ đó không đếm được. Ví dụ: "This parking lot is too crowded. I wish there were fewer cars" (Bãi đậu xe này quá đông đúc. Tôi ước có ít ôtô hơn). "I wish you would turn off the lights, so we could use less electricity" (Tôi mong bạn tắt đèn đi, chúng ta có thể tiết kiệm điện).

 

"Bring" và "take"

Đều có nghĩa là "mang" nhưng "bring" và "take" lần lượt là mang đến và mang đi, chỉ hai hướng khác nhau, tương tự "come" (đến) và "go" (đi).

"Bring" đề cập đến chuyển động về phía người nói. Chẳng hạn, "bring that book over here" (mang cuốn sách đó đến đây) hoặc "please bring a snack to the party" (vui lòng mang đồ ăn nhẹ đến bữa tiệc).

Mặt khác, "take" nói đến chuyển động ra xa khỏi người nói. Ví dụ: "Đon’t forget to take your book to school" (Đừng quên mang sách đến trường nhé) hoặc "please take me home" (Làm ơn đưa tôi về nhà).

"Me" và "myself"

Nhiều người học tiếng Anh nghĩ rằng "myself" nghe có vẻ lịch sự hơn "me" nhưng cách dùng của hai từ này lại hoàn toàn khác nhau.

"Me" là đại từ tân ngữ, dùng để chỉ người mà hành động của họ đang được thực hiện. Ví dụ: "My parents want me to help with the chores more" (Bố mẹ muốn tôi giúp việc nhà nhiều hơn) hoặc "Please call me if you have any questions" (Vui lòng gọi tôi nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào).

Mặt khác, "myself" là đại từ phản thân, tương tự "himself" hay "herself", được dùng khi bạn thực hiện hành động gì đó với chính mình hoặc tự làm điều gì đó. Chẳng hạn: "I gave myself a break from studying today" (Tôi tự cho mình nghỉ học hôm nay), "I cleaned the entire house by myself" (Tôi đã tự mình dọn dẹp nhà).

 


Mới hơn


Danh mục tin tức

Từ khóa

Thông tin liên hệ

Trụ sở chính:
85 Thành Mỹ, P.8, Q. Tân Bình, TP.HCM - ĐT : 028 38658352
Chi nhánh:
523 Tô Hiến Thành, P.14, Q.10 - ĐT: 0902 422 645
Câu hỏi thường gặp

Hai diện visa F1 và J1 có các điểm khác nhau về: - Phí chương trình (đã bao gồm phí xét hồ sơ, tiền học phí, ăn ở, đón sân bay, bảo hiểm, dịch vụ giám hộ trong suốt 1 năm), J1 là 11,600$/năm. F1 là 15,950$/năm. - Diện J1 bắt buộc sinh viên phải trở về Việt Nam để xin lại visa sau 1 năm còn diện F1 thì không bắt buộc. - Học sinh F1 có thể học tiếp lên còn học sinh J1 thì chỉ được học 1 khóa học duy nhất.

OPT (Optional Practical Trainging) là giấy phép cho phép những sinh viên tốt nghiệp tại Mỹ có thể ở lại làm việc tại nước này tối đa 12 tháng với điều kiện sinh viên phải có thời gian học full-time tại nước này ít nhất là 9 tháng. - Để có thể xin giấy phép OPT bạn cần : Bạn phải thuộc diện visa F1- Bạn phải có thời gian học Full-time tại nước này tối thiểu là 9 tháng.- Nếu bạn đã có công việc tại thời điểm nộp đơn thì công việc đó phải liên quan đến ngành học của bạn.

IB (International Baccalaureate - Chương trình tú tài quốc tế) là chương trình đào tạo kéo dài 2 năm dành cho đối tượng học sinh có độ tuổi từ 16-19. IB là một trong những khóa dự bị đại học khó nhất và được đánh giá cao trong khi xét tuyển.Đây là chương trình được công nhận tại nhiều trường đại học trên toàn thế giới. IB ra đời đầu tiên vào năm 1960 tại Thụy sỹ, hiện nay IB đã có mặt tại nhiều quốc gia từ Châu Âu đến Châu Á. Theo thống kê có đến 140 quốc gia cung cấp chương trình này.

Chọn lựa một đơn vị được công nhận và tín nhiệm như Trang Việt Anh sẽ giúp cá bạn và quý phụ huynh giảm tải hiệu quả những căng thẳng, lo lắng phát sinh trong quá trình chọn trường du học, nộp đơn xin nhập học và khi chuẩn bị lên đường. Hãy liên hệ ngay với chuyên viên của Trang Việt Anh để được tư vấn, với năng lực chuyên môn và luôn được cập nhật sớm nhất về những thay đổi của chính sách visa, chương trình đào tạo và luôn nỗ lực mang đến đến những lợi ích tối ưu cho bạn.

BẠN CẦN TƯ VẤN
XIN NHẬP THÔNG TIN VÀO Ô BÊN DƯỚI

* Thắc mắc của bạn sẽ được phản hồi trong 24h. Xin cảm ơn!